4.1Chỉ định điều trị bằng phẫu thuật của BV Bình Dân : - Hầu hết các bệnh Basedow từ độ II đến độ IV - Các bệnh Basedow có biến chứng tim mạch - Các bệnh nhân nặng và khó - Người bệnh có nhu cầu phẫu thuật để giải quyết nhanh bệnh của mình. 4.2.
Giảm cân nặng, mặc dù không thay đổi chế độ ăn uống Tăng tiết mồ hôi Nhịp tim nhanh, huyết áp cao kèm theo sự hồi hộp Run tay, cơ bắp yếu Tăng độ nhạy cảm với nhiệt độ Tiêu chảy hoặc tăng tần suất trong nhu động ruột Bướu cổ do tuyến giáp mở rộng Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt Rối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dục Suy tim Mắt lồi
1. Bệnh phổi tắt nghẽn Bệnh phổi hạn chế Viêm phổi do vi khuẩn U phổi Bệnh Phổi. 2. Bệnh phổi tắt nghẽn1 Định nghĩa: là sự suy yếu khả năng thông khí, không khí thoát khỏi phế nang trong thì thở ra khó khăn hơn. Lâm sàng được xác định bởi FEV1/FVC giảm Phân loại
Bài giảng Giải phẫu Bệnh - Y Hà Nội chiaseykhoa Follow 1. BÀI 1 1.Mô hạt 2. Bệnh Goutte 3. Viêm ruột thừa cấp 4. Viêm dạ dày mạn tính 2. MÔ HẠT 3. Tiêu chuẩn vi thể • Các thành phần thấy trong mô hạt • Vi mạch tân tạo • Lympho bào • Tương bào • Đại thực bào • Bạch cầu đa nhân • Tế bào sợi 4. Mô hạt 5. Mô hạt 1. Vi mạch tân tạo 2. Lympho bào 3.
Atlas giải phẫu người (3) Hoá dược (3) Điều dưỡng cơ bản (3) Liệu pháp vận động (3) Viêm đường hô hấp cấp (3) Chính sách y tế (3) Cấp cứu nhi khoa (3) Y học thể thao (3) Hỏi đáp về sức khoẻ bệnh tật (3)
TS.BS Vũ Hữu Khiêm - Trưởng khoa Ung bướu, BVĐK Tâm Anh Hà Nội cho biết, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 4 trên thế giới và bất cứ phụ nữ nào cũng có nguy cơ mắc phải. Đặc biệt là những phụ nữ bị nhiễm virus HPV, HIV. Cách điều trị ung thư cổ tử
- Giải phẫu bệnh: tuyến giáp lớn đều cả hai thùy, tính chất lan tỏa, mềm và tân sinh nhiều mạch máu. Nhu mô giáp phì đại và tăng sản, gia tăng chiều cao của tế bào thượng bì và vách nang tuyến, tạo ra các nếp gấp dạng nhú phản ánh tế bào tăng hoạt động.
Khi tiến hành mổ, cần phải chú ý: chỉ nên phẫu thuật cho những bệnh nhân Basedow trong giai đoạn ổn định: Mạch trở lại bình thường: 70-80 lần/phút. Chuyển hóa cơ bản giảm xuống tới mức độ tương đối bình thường: ± 15%. Basedow đã có cơn độc giáp trạng cần được
. Bệnh Basedow là một trong những căn bệnh về tuyến giáp phổ biến nhất. Căn bệnh này thường ảnh hưởng chủ yếu tới phụ nữ và những người dưới 40 tuổi. Hiện nay bệnh Basedow đã có các phương pháp điều trị hiệu quả, bao gồm phẫu thuật, sử dụng thuốc hoặc liệu pháp i-ốt phóng xạ. Tùy thuộc vào tình trạng và diễn tiến của bệnh mà mỗi người sẽ có một lựa chọn điều trị khác nhau. 1. Bệnh Basedow là gì? Bệnh Basedow, hay còn gọi là bệnh Graves, là một tình trạng rối loạn hệ thống miễn dịch, khiến tuyến giáp sản xuất ra quá nhiều hormone thyroid, dẫn đến bệnh cường giáp. Mặc dù một số rối loạn khác cũng có thể dẫn đến cường giáp, tuy nhiên bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến thường, các hormone tuyến giáp tham gia vào nhiều quá trình quan trọng trong cơ thể, như trao đổi chất, điều chỉnh nhiệt lượng, nhịp tim,...vì vậy khi tuyến giáp hoạt động bất thường sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe tổng thể của bạn. Bệnh Basedow có thể xuất hiện ở bất cứ độ tuổi nào, nhưng phổ biến hơn cả là ở phụ nữ và những người dưới 40 tuổi. Bệnh Basedow thường có các biểu hiện và triệu chứng sauThay đổi tâm trạng, ví dụ như cáu kỉnh, lo lắngRun tayNhạy cảm với nhiệt độTăng tiết mồ hôiGiảm cân bất thường, mặc dù thói quen ăn uống không thay đổiTuyến giáp mở rộng gây bướu cổRối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dụcThay đổi chu kỳ kinh nguyệtNhu động ruột thường xuyênBệnh nhãn khoa Graves chiếm khoảng 30% gồm mắt lồi, đau mắt, sưng mí mắt, đỏ hoặc viêm mắt, song thị, mất thị lực, nhạy cảm với ánh sángCơ thể mệt mỏiBệnh da liễu Graves hiếm gặp da dày và đỏ ở cẳng chân hoặc đỉnh bàn chânNhịp tim nhanh, hoặc không đều đánh trống ngựcNgoài ra, một số tình trạng y tế khác cũng có thể gây ra các triệu chứng của bệnh Basedow. Bạn nên gặp bác sĩ nếu có bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào liên quan đến căn bệnh này để được chẩn đoán chính xác và kịp thời. Đối với các trường hợp như tim đập nhanh, không đều hoặc mất thị lực thì bệnh nhân phải cần đến sự chăm sóc khẩn cấp. Mệt mỏi là dấu hiệu thường gặp nhất của bệnh Basedow 3. Chẩn đoán bệnh Basedow Việc chẩn đoán bệnh Basedow có thể bao gồmKhám sức khỏe tổng thể bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra mắt của bệnh nhân để xem liệu chúng có các biểu hiện bất thường như lồi ra hay bị kích ứng hay không. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ kiểm tra tuyến giáp, mạch, huyết áp cùng một số dấu hiệu khác của bệnh nghiệm máu bệnh nhân sẽ được yêu cầu thực hiện xét nghiệm máu để xác định mức độ của hai loại hormone, bao gồm thyroxine tự do T-4 tự do và triiodothyronine T-3 tự do, được sản xuất hoặc điều chỉnh bởi tuyến giáp. Nếu nồng độ hormone kích thích tuyến giáp TSH trong máu có mức thấp hơn bình thường, trong khi lượng hormone tuyến giáp lại ở mức cao thì rất có khả năng bạn đã bị mắc bệnh nghiệm hấp thụ i-ốt phóng xạ i-ốt là một chất có vai trò vô cùng thiết yếu trong việc tạo ra hormone tuyến giáp. Để chẩn đoán bệnh Basedow, bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm hấp thụ i-ốt phóng xạ để xác định lượng i-ốt được hấp thụ bởi tuyến giáp. Nếu kết quả cho thấy có một lượng lớn i-ốt được hấp thụ bất thường, điều này chứng tỏ tuyến giáp đã sản xuất ra quá nhiều hormone âm sử dụng sóng âm thanh tần số cao để tạo ra hình ảnh của các cấu trúc bên trong cơ thể. Phương pháp này có thể cho thấy sự mở rộng của tuyến giáp, và đặc biệt hữu ích đối với những bệnh nhân không thể hấp thụ i-ốt phóng xạ, ví dụ như phụ nữ đang mang xét nghiệm hình ảnh nếu đánh giá lâm sàng không thể chẩn đoán rõ ràng bệnh Basedow, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh thực hiện các xét nghiệm hình ảnh, bao gồm công nghệ X-quang, CT scan, hoặc hình ảnh cộng hưởng từ MRI. Xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh 4. Bệnh Basedow có chữa được không? Bệnh Basedow là một trong những căn bệnh về tuyến giáp thường gặp nhất. Hầu hết các bệnh có liên quan đến tuyến giáp đều có thể điều trị để đưa chức năng của tuyến giáp trở về trạng thái bình thường. Tuy nhiên, bệnh nhân sẽ cần phải thường xuyên sử dụng thuốc để kiểm soát cường giáp do bệnh Basedow được gây ra bởi các kháng thể của hệ miễn dịch tấn công vào tuyến giáp và kích thích mô nội tiết này sản sinh ra nhiều nay, thuốc kháng giáp, phẫu thuật và i-ốt phóng xạ là những phương pháp điều trị mang lại hiệu quả cao và có thể khôi phục chức năng của tuyến giáp trở lại như bình thường. Phương pháp i-ốt phóng xạ và phẫu thuật có khả năng chữa khỏi bệnh cường giáp bằng cách loại bỏ tuyến nhiên, các kháng thể kích thích tuyến giáp thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi những phương pháp điều trị này, do đó nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh Basedow vẫn còn tồn một số trường hợp nhất định, thuốc kháng giáp có thể làm biến mất các kháng thể kích thích tuyến giáp, từ đó giúp cải thiện các triệu chứng của bệnh Basedow và bệnh nhân có thể ngừng sử dụng thuốc sau đó. Tuy nhiên, những kháng thể này có thể quay trở lại bất cứ lúc nào và khiến cho bệnh Basedow tái lại, yếu tố quan trọng nhất để khôi phục các chức năng của tuyến giáp trở lại bình thường là việc lựa chọn các phương pháp điều trị thích hợp cho mỗi bệnh nhân. Sau khi được chẩn đoán mắc bệnh Basedow, tất cả bệnh nhân cần được theo dõi y tế suốt đời để đảm bảo rằng tuyến giáp của họ vẫn hoạt động trong phạm vi tốt nhất. Phẫu thuật đang là phương pháp đem lại điều trị bệnh Basedow cao 5. Điều trị bệnh Basedow Mục tiêu chính của quá trình điều trị bệnh Basedow là ức chế tuyến giáp sản xuất ra nhiều hormone, đồng thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của căn bệnh đối với sức khỏe tổng thể. Một số phương pháp điều trị bệnh Basedow, bao gồm*Liệu pháp i-ốt phóng xạĐối với phương pháp điều trị này, bệnh nhân sẽ được sử dụng i-ốt phóng xạ hoặc radioiodine bằng đường uống. Do tuyến giáp rất cần i-ốt để sản xuất ra hormone thyroid, vì vậy radioiodine sẽ xâm nhập vào những tế bào này, sau đó phá hủy các tế bào tuyến giáp hoạt động quá mức. Điều này giúp cho tuyến giáp co lại, các triệu chứng cũng giảm dần, tuy nhiên bệnh nhân thường phải mất khoảng vài tuần đến vài tháng để đạt được hiệu quả rõ cạnh những lợi ích mang lại cho việc điều trị bệnh Basedow, liệu pháp radioiodine có thể làm tăng nguy cơ mắc các triệu chứng mới hoặc làm cho bệnh nhãn khoa Graves trở nên xấu đi. Các tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ và tạm thời, nhưng liệu pháp này có thể không được khuyến nghị sử dụng nếu bạn có các vấn đề về mắt từ mức độ trung bình cho tới ra, liệu pháp i-ốt phóng xạ có thể gây ra các tác dụng phụ khác, bao gồm đau cổ hoặc tăng hormone tuyến giáp tạm thời. Nó cũng được khuyến cáo là không nên sử dụng để điều trị cho phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú.*Thuốc chống tuyến giápThuốc chống tuyến giáp là một loại thuốc kê đơn, bao gồm methimazole Tapazole và propylthiouracil. Hai loại thuốc này cần được kết hợp sử dụng để tránh nguy cơ tái phát bệnh cường giáp sau điều nên duy trì sử dụng thuốc trong khoảng thời gian hơn một năm, thậm chí lâu hơn để đạt được kết quả tốt nhất. Ngoài ra, thuốc chống tuyến giáp có thể được sử dụng trước hoặc sau khi điều trị bằng liệu pháp i-ốt phóng xạ, với vai trò như một phương pháp điều trị bổ nhiên, hai loại thuốc này có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn, chẳng hạn như đau khớp, phát ban, suy gan hoặc suy giảm các tế bào bạch cầu trong máu. Hơn nữa, methimazole không được sử dụng để điều trị cho những phụ nữ đang ở giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ, vì nó có thể gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Thuốc chống tuyến giáp chống chỉ định cho phụ nữ mang thai vì ảnh hưởng đến thai nhi *Thuốc chẹn BetaNhững loại thuốc này không có khả năng ức chế việc sản xuất hormone của tuyến giáp, nhưng chúng có thể ngăn chặn các ảnh hưởng của hormone đối với cơ thể. Bên cạnh đó, thuốc chẹn beta có tác dụng làm giảm các triệu chứng của bệnh Basedow, chẳng hạn như run rẩy, tim đập nhanh, lo lắng, khó chịu, đổ mồ hôi, tiêu chảy, yếu cơ hoặc không dung nạp số loại thuốc chẹn Beta, bao gồm Metoprolol Lopressor, Toprol-XL, Propranolol, Atenolol Tenormin, hoặc Nadolol Corgard.Thuốc chẹn Beta thường không được kê đơn cho những người mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh hen suyễn, vì nó có thể làm cho việc kiểm soát các căn bệnh này trở nên khó khăn và phức tạp hơn.*Phẫu thuậtPhương pháp phẫu thuật thường được thực hiện bằng cách loại bỏ một phần hoặc toàn bộ tuyến giáp của bạn. Tuy nhiên, phẫu thuật có thể mang lại một số rủi ro nhất định, bao gồm tổn thương dây thần kinh kiểm soát thanh âm và các tuyến cận giáp. Thuốc Propranolol có tác dụng điều trị bệnh Basedow 6. Lối sống và các biện pháp khắc phục bệnh Basedow Nếu bạn bị mắc bệnh Basedow, hãy ưu tiên nhiều cho tinh thần và thể chất của mình. Điều này bao gồmĂn uống đầy đủ chất dinh dưỡngTập thể dục thường xuyênGiảm căng thẳng bằng cách nghe nhạc, tắm nước ấm, hoặc đi dạoNgừng hút thuốc láĐối với bệnh nhãn khoa Graves bạn nên bảo vệ mắt bằng kính dâm, hoặc sử dụng thuốc nhỏ mắt có tác dụng bôi trơn, giúp cải thiện các tình trạng khô với bệnh da liễu Graves sử dụng các loại kem hoặc thuốc mỡ không kê đơn có chứa hydrocortison để giảm sưng và đỏ thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow Bài viết tham khảo nguồn Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Vì sao bệnh basedow ở nữ giới thường phổ biến hơn ở nam? Vai trò của siêu âm chẩn đoán bệnh Basedow Rụng tóc nhiều Khi nào là bệnh?
Một trong các cách điều trị bệnh basedow là phẫu thuật tuyến giáp. Vì đây là phương pháp xâm lấn, có thể tiềm ẩn các nguy cơ nhất định, việc cân nhắc điều trị bệnh basedow khi nào cần phẫu thuật đúng chỉ định là một điều quan trọng. Bác sĩ có thể đề nghị tư vấn phẫu thuật tuyến giáp cho bệnh nhân basedow trong các trường hợp sauHiện đang mang thai hoặc cho con bú hoặc nuôi con nhỏ trong nhàBiến chứng mắt nghiêm trọng do bệnh basedowCó sự hiện diện đồng thời của ung thư tuyến giáp hoặc nốt sần nghi ngờ ác tínhBị tác dụng phụ của thuốc kháng giápKích thước tuyến giáp quá to gây ra khó khăn khi nuốt, hít thở hoặc biến dạng cổKhó kiểm soát cường giápMong muốn kiểm soát nhanh chóng và giải quyết khỏi bệnh cường giáp Bệnh basedow xuất hiện cùng lúc với ung thư tuyến giáp cần được phẫu thuật 2. Những lợi ích khi phẫu thuật tuyến giáp là gì? Phẫu thuật tuyến giáp sẽ đem đến cho những người mắc bệnh basedow một cách chữa trị nhanh chóng và hiệu dù bệnh nhân có thể sẽ cần chuyển từ việc uống thuốc chống tuyến giáp sang bổ sung hormone tuyến giáp nếu phẫu thuật cắt trọn tuyến giáp, các triệu chứng khó chịu nhìn chung không còn nữa. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tiếp tục dùng tất cả các loại thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta cho đến tận ngày phẫu thuật. Thậm chí, thuốc chẹn beta có thể được tiếp tục trong một vài ngày sau phẫu thuật và sau đó có thể giảm dần hoặc dừng lại. Việc bổ sung hormone tuyến giáp thường được bắt đầu vào ngày hôm sau, hoặc một vài ngày sau đó ở những bệnh nhân kiểm soát hormone kém trong giai đoạn trước phẫu mổ cường giáp sẽ cắt bỏ tuyến giáp tất cả hoặc gần như tất cả các mô tuyến giáp khỏi cổ, điều này sẽ dẫn đến việc giảm sản xuất kháng thể nhanh hơn theo thời gian, có lợi cho những người mắc biến chứng về mắt. Đồng thời, mổ basedow cũng tránh được sự tăng đột biến đáng kể trong sản xuất kháng thể được quan sát thấy khi điều trị với iốt phóng xạ, có thể làm trầm trọng thêm tổn thương mắt, đặc biệt là ở người hút với những bệnh nhân có các triệu chứng chèn ép đáng kể do tuyến giáp quá to, gây khó nuốt, cảm giác nghẹt thở, khó thở hoặc có áp lực cổ, nặng cổ, mổ cường giáp sẽ loại bỏ bớt nhu mô tuyến giáp và sẽ giải quyết các triệu chứng với những bệnh nhân muốn tránh tiếp xúc với bức xạ, phẫu thuật tuyến giáp là một biện pháp thay thế không có phóng xạ để kiểm soát dứt điểm căn bệnh này. 3. Những nguy cơ có thể gặp phải khi mổ basedow là gì? Chấn thương thoáng qua ở dây thần kinh thanh quản tái phát hoặc nhánh ngoài của dây thần kinh thanh quản trên dẫn đến khàn giọng, mất giọng nói. Nguy cơ chấn thương vĩnh viễn là rất canxi máu thoáng qua Tại thời điểm phẫu thuật, tuyến cận giáp thường nằm ở phần sau của tuyến giáp phải được bảo quản cẩn thận nhưng vẫn có thể sang chấn và cần một thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Trong thời gian này, tuyến cận giáp không thể đảm bảo chức năng duy trì mức canxi trong máu. Lúc này, chủ động điều trị trước bằng canxi và bổ sung vitamin D có thể giảm thiểu những rủi ro này. Nguy cơ hạ canxi máu vĩnh viễn do tổn thương không hồi phục đối với tuyến cận giáp là cực kỳ thấp ở các bác sĩ phẫu thuật tuyến giáp có kinh máu, nhiễm trùng Các nguy cơ này xảy ra trong giai đoạn hậu phẫu tại vị trí phẫu thuật tuyến giáp là rất bão giáp Trong quá trình phẫu thuật tuyến giáp, việc xử lý tuyến giáp có thể gây ra sự giải phóng ồ ạt các hormone tuyến giáp vào máu. Nếu người bệnh đã được kiểm soát tốt tiền thuật trước đó, cơ thể đã được bảo vệ khỏi tác động của hormone này. Ngược lại, cơn bão giáp nghiêm trọng có thể gây tổn thương cấp tính các cơ quan và đôi khi còn nguy kịch đến tính mạng ngay trên bàn mổ nếu không được kiểm soát tức thời. Người bệnh có thể mất giọng sau khi mổ basedow 4. Làm thế nào để chuẩn bị phẫu thuật tuyến giáp? Đảm bảo người bệnh đang được chỉ định dùng thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta để kiểm soát tối ưu nồng độ hormone tuyến giáp trước khi phẫu sĩ phẫu thuật nên bắt đầu bổ sung canxi từ trước mổ basedow và bổ sung vitamin D nếu người bệnh bị bệnh có thể được kê toa thuốc giảm iốt trong 10 ngày trước phẫu thuật. Những giọt iốt này không chứa bất kỳ bức xạ nào mà có thể giúp giảm lưu lượng máu đến tuyến giáp trước khi mổ cường giáp. 5. Cách tiến hành phẫu thuật tuyến giáp Việc phẫu thuật tuyến giáp sẽ được thực hiện dưới gây mê toàn vết mổ được thực hiện ở ngay phía trước cổ của người bệnh để bác sĩ có thể tiếp cận đến tuyến giáp. Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải kiểm soát cẩn thận các mạch máu đến tuyến giáp, loại bỏ tuyến giáp trong khi bảo vệ dây thần kinh kiểm soát dây thanh âm và tuyến cận giáp. Nếu tuyến cận giáp bị tổn thương, chúng có thể được đặt lại vào trong các cơ vùng cổ để có thể tự phục tuyến giáp đã được cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật sẽ đóng tất cả các lớp và có thể để lại một ống dẫn nhỏ để tiếp tục dẫn lưu, loại bỏ bất kỳ chất lỏng nào có thể tích tụ trong không gian nơi tuyến giáp tồn tại trước bệnh sẽ được theo dõi trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật để đảm bảo các chức năng đang hồi phục tốt. Đối với một số bệnh nhân gặp phải tình trạng hạ canxi sau phẫu thuật, thời gian nằm viện có thể dài hơn cho đến khi mức canxi được điều chỉnh trở về ổn định. Gây mê toàn thân được chỉ định trong phẫu thuật 6. Cách chăm sóc sau phẫu thuật tuyến giáp như thế nào? Cách thức phẫu thuật và thời gian phục hồi có thể khác nhau ở mỗi cá chung, sau mổ basedow, hầu hết các người bệnh là không tránh khỏi bị đau họng trong vài ngày. Chính vì vậy, họ cần được được chăm sóc bằng một chế độ ăn uống mềm hơn, dễ nuốt hơn trong giai đoạn tuần đầu tiên sau mổ cường giáp, mức năng lượng dung nạp được của bệnh nhân sẽ thấp hơn bình thường vì cơ thể đang sử dụng năng lượng của mình để chữa lành. Tuy vậy, khi vết thương cải thiện hơn, người bệnh có thể ăn uống tăng dần. Sau phẫu thuật, người bệnh cần ăn các loại thức ăn mềm 7. Có cần phải uống thuốc tiếp tục sau phẫu thuật tuyến giáp hay không? Bác sĩ phẫu thuật sẽ bắt đầu liệu pháp thay thế hormone tuyến giáp sau phẫu thuật tuyến hầu hết các trường hợp, người bệnh sẽ có chỉ định bắt đầu vào buổi sáng sau mổ basedow. Nếu nồng độ hormone tuyến giáp chưa được kiểm soát tốt trước khi phẫu thuật hoặc người bệnh đã trải qua một sự giải phóng hormone ồ ạt trong quá trình phẫu thuật có thể nhận thấy nhịp tim nhanh, huyết áp cao, bốc hỏa nặng hoặc run rẩy tay chân ngay sau phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật có thể trì hoãn thuốc sau vài cạnh đó, dựa trên mức độ canxi và lượng hormone tuyến cận giáp trong máu, người bệnh có thể cần phải bổ sung canxi và/hoặc vitamin D trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật tuyến nhiên, bệnh nhân sẽ có thể ngừng thuốc kháng giáp ngay lập tức sau mổ basedow. Nếu đang dùng thuốc chẹn beta nhằm kiểm soát nhịp tim, bác sĩ có thể ngừng, giảm liều hoặc giữ liều tương tự với kế hoạch cai thuốc trong vài tuần và vài tháng sau phẫu lại, phẫu thuật tuyến giáp là cách thức điều trị bệnh basedow đem lại hiệu quả nhanh, kiểm soát tốt triệu chứng và không có nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ. Tuy nhiên, để cuộc mổ cường giáp đem lại lợi ích tối đa, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hạn chế các rủi ro không mong được tư vấn chi tiết, quý khách vui lòng đến trực tiếp hệ thống y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Chỉ số FT4= 13,2, TSH = 0,04 sau điều trị bệnh Basedow 3 tháng có ổn không? Mối liên hệ giữa tuyến giáp và rụng tóc Tiết dịch vàng ở vú trong thời kỳ mang thai có sao không?
Bệnh Basedow bệnh Graves xảy ra phổ biến ở người trẻ, có nhiều cách gọi khác nhau như Graves hoặc Parry, được biết đến là một trong những căn bệnh cường giáp khá phổ biến hiện nay. Nếu không nhận biết sớm và điều trị tích cực có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Bệnh Basedow là bệnh gì? Bệnh Basedow là bệnh tự miễn của tuyến giáp. Bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp, biểu hiện đặc trưng gồm bướu giáp lan tỏa, lồi mắt, phù niêm trước xương chày. Bệnh liên quan đến sự hiện diện của các kháng thể kích thích tuyến giáp. Nữ giới bị bệnh nhiều gấp 5 – 10 lần nam giới. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là trong độ tuổi 20 – 40. 1 Nguyên nhân gây bệnh basedow Với cơ chế thông thường, vùng dưới đồi và tuyến yên trong não làm việc cùng nhau để kiểm soát việc sản xuất hormone tuyến giáp. Khi hormone tuyến giáp ít, vùng dưới đồi “báo hiệu” cho tuyến yên tiết ra hormone kích thích tuyến giáp TSH. Nhưng khi bị Basedow tuyến giáp, hệ thống miễn dịch lại tấn công các thụ thể TSH nên cơ thể không thể phân biệt được sự khác biệt giữa cuộc tấn công và các thông điệp truyền đi qua các thụ thể giống nhau. Các nhà khoa học tìm thấy ở người bệnh Basedow tuyến giáp có sự hiện diện của các kháng thể kích thích tuyến giáp sản xuất hormone tuyến giáp quá mức. 2 Cho đến hiện nay căn nguyên của bệnh vẫn chưa được xác định chính xác. Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh này mang tính di truyền cao khoảng 79%. Bên cạnh việc bắt nguồn từ yếu tố di truyền, bệnh còn có thể do tác động của một số yếu tố khác như độ tuổi, giới tính, môi trường sống và môi trường làm việc, cơ địa hoặc có thể là những loại hóa chất ẩn trong thực phẩm, thức ăn mỗi ngày tích tụ lại. Biểu hiện của bệnh basedow 1. Cường giáp hội chứng nhiễm độc giáp Giảm cân là dấu hiệu thường gặp giảm khoảng 3-20kg trong thời gian ngắn dù vẫn ăn ngon miệng. Một số trường hợp lại tăng cân mất kiểm soát. Thay đổi tính cách và khí sắc cảm thấy lo lắng, dễ cáu gắt, nhạy cảm, khó tập trung, mệt mỏi, khó ngủ. Rối loạn điều hòa thân nhiệt cơn “bốc hỏa”; chảy mồ hôi nhiều ở ngực và bàn tay dấu hiệu bàn tay Basedow, sợ nóng, thường xuyên cảm thấy khát và uống nhiều nước. Tim mạch hồi hộp, đánh trống ngực, ngạt thở, đau vùng trước tim. Rối loạn tiêu hóa tăng số lần đi tiêu, kết cấu phân nát do tăng nhu động ruột ở khoảng 20% bệnh nhân Basedow. Cảm giác buồn nôn, nôn mửa, đau bụng. 2. Bướu giáp lan tỏa Bướu giáp thường gặp ở khoảng 80% người bệnh Basedow. Bướu thường ở mức độ II, lan tỏa, mật độ mềm/chắc, chuyển động khi nuốt. Basedow là dạng bướu mạch nên có thể sờ và nghe thấy tiếng thổi tâm thu. Đôi khi bướu nhỏ hoặc chìm sâu vào trung thất. Kích thước bướu Basedow có thể thay đổi sau khi điều trị, dễ nhận ra ở người bệnh mới mắc bệnh. Khi bệnh tiến triển kèm theo khối u phát triển, những dấu hiệu dễ nhận thấy như sờ thấy có một khối u ở giữa cổ, có ranh giới rõ ràng, không dính vào da, không đau, di động theo nhịp nuốt, khi bướu cổ quá to có thể gây nên tình trạng chèn ép khó chịu. 3. Bệnh mắt nội tiết gặp trong khoảng 40 – 60% các bệnh nhân bướu Basedow Biểu hiện mắt lồi thường gặp ở bệnh nhân nữ. Bướu Basedow là bệnh tự miễn, có liên quan đến tình trạng rối loạn, suy giảm hệ miễn dịch, do đó khi mắc bệnh này, cơ thể sẽ tự sản sinh ra kháng thể tấn công các mô và cơ xung quanh vùng mắt, gây ra các vấn đề về mắt. Nếu các biểu hiện này kéo dài và không được điều trị đúng cách, người bệnh sẽ đối diện nguy cơ mất thị lực. Thông thường, những dấu hiệu đầu tiên khi bệnh xuất hiện biến chứng ở mắt có thể xuất hiện trước hoặc sau 6 tháng mắc bệnh Basedow. Những dấu hiệu ban đầu có thể bao gồm cảm giác chói mắt, khô dịch mắt, cộm như có bụi trong mắt, đau nhức trong hốc mắt, chảy nước mắt… Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh cảm thấy khó khăn khi cử động mắt hoặc nhắm mắt, chớp mắt, lồi mắt, mù lòa… Bệnh chuyển biến nặng sẽ gây ra biến chứng mắt nguy hiểm 4. Phù niêm Da dày lên không thể véo da lên được, đặc biệt ở phần thấp xương chày do sự tích lũy các chất Glycosaminoglycan, đôi khi xuất hiện ở toàn bộ cẳng chân và có thể lan tới cả bàn chân. Da sần sùi, có màu nâu vàng hoặc tím đỏ. Bệnh Basedow lây qua đường nào? Basedow không phải là một bệnh truyền nhiễm nên không lây qua đường hô hấp hay tiếp xúc. Nguyên nhân gây bệnh đến từ yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ bị nhiễm độc giáp thì con sinh ra có nguy cơ mắc bệnh. Do đó, người bệnh hay người trong gia đình có thể yên tâm chung sống cùng nhau. Đối tượng dễ mắc bệnh Basedow Bất kỳ ai cũng có thể mắc bệnh Basedow, kể cả trẻ nhỏ và giới tính khác. Tuy nhiên, những yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Basedow bao gồm Nữ giới Trong độ tuổi từ 30 đến 50 Mắc bệnh tự miễn khác Chẩn đoán bệnh basedow Chẩn đoán bệnh Basedow chủ yếu dựa vào lâm sàng. Bác sĩ nội tiết sẽ xem xét các triệu chứng, các bướu ở cổ nếu có. Kết hợp kết quả xét nghiệm các chức năng tuyến giáp, hormone tuyến giáp T4 và T3 trong máu tăng cao; trong một số trường hợp, chỉ có mức T3 tăng lên. Nồng độ TSH giảm rất thấp, thậm chí dưới giới hạn phát hiện. Khi nghi ngờ bệnh Basedow, người ta quan sát thấy các kháng thể dương tính anti thyroglobulin, anti microsomal, TSI. 1. Khám sức khỏe tổng thể Một số triệu chứng bác sĩ có thể nhận ra khi khám sức khỏe tổng quát. Những biểu hiện bao gồm nhịp tim nhanh, run, thay đổi da, phản xạ mạnh, tuyến giáp to. 2. Xét nghiệm máu Xét nghiệm hormon tuyến giáp bao gồm TSH, FT4, nên cân nhắc xét nghiệm FT3, T3 khi kết quả FT4 bình thường nhưng biểu hiện cường giáp rõ. Xét nghiệm các kháng thể kháng tuyến giáp như kháng thể thụ thể thyrotropin TRAbs và globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp TSI sẽ thấy tăng cao. Các kháng thể này được tạo ra bởi hệ thống miễn dịch để đáp ứng với một cơ thể lạ hoặc mối đe dọa trong cơ thể. 3. Xạ hình tuyến giáp bằng chất đồng vị phóng xạ I123 tốt nhất hoặc I131 hoặc Technitium. Kỹ thuật này giúp đo sự hấp thụ iốt của tuyến giáp còn được gọi là xét nghiệm RAIU. Xét nghiệm được thực hiện bằng cách sử dụng chất đánh dấu phóng xạ và đầu dò đặc biệt để đo lượng i ốt mà tuyến giáp có thể hấp thụ từ máu. Nên thực hiện kỹ thuật này khi nghi ngờ Basedow nhưng không có bướu giáp hoặc không có các triệu chứng về mắt. Trong Basedow Tuyến giáp to và tăng bắt chất phóng xạ. Cổ điển với I131 sẽ có dấu hiệu góc thoát. 4. Siêu âm tuyến giáp và siêu âm doppler màu tuyến giáp Đôi khi cần làm để đánh giá mức độ tăng tưới máu, các nhân giáp. Các biện pháp điều trị bệnh Basedow Nếu bướu cổ lớn, tạo ra các triệu chứng chèn ép hoặc kèm theo các thay đổi ở mắt điển hình của bệnh Basedow, điều trị phẫu thuật sẽ được chỉ định. Trường hợp, bướu cổ có kích thước nhỏ hoặc có nguy cơ phẫu thuật cao, có thể dùng một liều iốt phóng xạ bằng đường uống, sẽ có tác dụng sau 1-2 tháng. Bác sĩ Nội tiết sẽ đưa ra phương pháp điều trị bệnh phù hợp cho người bệnh Các phương pháp điều trị bệnh cụ thể bao gồm 1. Điều trị nội khoa bướu cổ basedow Điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp đường uống carbimazole, methimazole, propylthiouracil PTU, giúp ức chế sự hình thành hormone tuyến giáp và bắt đầu cải thiện các triệu chứng sau 1-2 tuần. Methimazole thường được ưu tiên điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh Basedow. PTU thường là lựa chọn an toàn nhất trong thời kỳ đầu mang thai. 2. Điều trị bằng i-ốt phóng xạ Phương pháp điều trị này phá hủy mô tuyến giáp để giảm sản xuất hormone. Sau khi người bệnh uống dung dịch có chứa i-ốt phóng xạ, tuyến giáp sẽ hấp thụ dung dịch như cách cơ thể hấp thụ i-ốt. Bức xạ tích tụ trong mô và phá hủy chúng. Đây được coi là cách chữa bệnh Basedow. Nhưng nó thường dẫn đến nồng độ hormone tuyến giáp quá thấp suy giáp. Lúc này, người bệnh có thể cần phải dùng hormone tuyến giáp tổng hợp như levothyroxine để bù đắp. Từ “phóng xạ” nghe có vẻ đáng sợ, nhưng phương pháp điều trị này đã được chứng minh là an toàn. Ở Mỹ, hơn 70% người bị cường giáp được điều trị bằng phương pháp này. Phương pháp điều trị này cũng được gọi là radioiodine để giảm bớt nỗi sợ hơn cho người bệnh. Chỉ định Bệnh nhân không thể hoặc không muốn phẫu thuật như suy tim… Bướu giáp không nhỏ đi sau điều trị nội khoa Tái phát sau phẫu thuật Chống chỉ định Phụ nữ có thai/ cho con bú Người trẻ hơn 16-18 tuổi Người bệnh có biến chứng mắt nặng 3. Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật bệnh Basedow liên quan đến việc cắt bỏ hầu hết tuyến giáp. Đây cũng là phương pháp trị bệnh cường giáp. Tuy nhiên, do cơ thể không còn khả năng tạo ra hormone tuyến giáp nên sẽ gây tình trạng suy giáp. Lúc này, người bệnh cần bổ sung hormone tuyến giáp tổng hợp trong suốt phần đời còn lại. Người bệnh có thể dùng dưới dạng thuốc viên với định lượng 1 viên/ngày. Cách bổ sung này giúp kiểm soát mức độ tuyến giáp, duy trì tình trạng khỏe mạnh. Lưu ý, trong quá trình điều trị, người bệnh cần đi khám 3-4 tháng một lần để theo dõi các tác dụng phụ có thể xảy ra. Sau khoảng thời gian đó, khoảng 40% trường hợp thuyên giảm vĩnh viễn, trong khi số còn lại tái phát. Chỉ định Bướu giáp to hoặc bướu đa nhân, bướu chìm trong lồng ngực Trong trường hợp tái phát sau điều trị nội khoa Người bệnh muốn có thai sớm Chống chỉ định Người bệnh có biến chứng tim nặng như suy tim… Người bệnh lớn tuổi Biến chứng của bệnh Basedow Bên cạnh các biến chứng phổ biến liên quan đến mắt và da, những biến chứng ở bệnh Basedow khác bao gồm Đột quỵ Suy tim/ các vấn đề về tim Mỏng xương, dẫn đến loãng xương Cơn bão giáp triệu chứng tăng đột ngột hiếm gặp, đe dọa tính mạng Tuy nhiên, những biến chứng này thường phát triển ở những người không được điều trị đúng cách hoặc mắc tình trạng bệnh nặng. Người bệnh Basedow cũng đối diện với nguy cơ phát triển các tình trạng tự miễn dịch khác bao gồm Viêm khớp dạng thấp Lupus ban đỏ hệ thống bệnh tự miễn gây ra tình trạng cơ thể tự sản xuất ra kháng thể tấn công vào các mô của các cơ quan Bệnh Addison suy thượng thận nguyên phát Bệnh celiac bệnh qua trung gian miễn dịch di truyền ở người do không dung nạp gluten, gây viêm niêm mạc và teo nhung mao, dẫn đến kém hấp thu. Bệnh đái tháo đường tuýp 1 Bệnh bạch biến là một tổn thương mất tế bào sắc tố da khiến vùng da bị ảnh hưởng có màu da nhạt hơn so với những vùng da khác trên cơ thể. Ngoài ra, bất kỳ loại cường giáp nào không được điều trị đều có thể dẫn đến tình trạng cấp tính được gọi là khủng hoảng nhiễm độc giáp đặc trưng bởi tình trạng mất nước, nhịp tim nhanh hoặc rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, suy tim, rối loạn thông khí và suy giảm ý thức. Có thể bạn chưa biết Bệnh Basedow có chữa khỏi được không? Cách phòng tránh bệnh Basedow Tuyến giáp đóng vai trò quan trọng để duy trì sức khỏe và hoạt động cơ thể. Các triệu chứng có thể không chỉ khó chịu mà còn đáng lo ngại. Tuy nhiên, bệnh tuyến giáp dễ chẩn đoán và có những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả. Người bệnh có thể không khỏi bệnh hoàn toàn và thỉnh thoảng xuất hiện triệu chứng. Điều trị thích hợp có thể giúp người bệnh sống vui vẻ. Để được tư vấn và đặt lịch khám với các chuyên gia Nội tiết – Đái tháo đường hàng đầu tại BVĐK Tâm Anh, quý khách hàng vui lòng liên hệ đến Để phòng chống mắc bệnh Basedow hay các bệnh về tuyến giáp, duy trì lịch khám định kỳ và xét nghiệm máu khi bác sĩ đề nghị. Điều này càng cần thiết đối với nhóm người có nguy cơ. Thông qua các kết quả xét nghiệm, người bệnh có thể nắm được mức hormone tuyến giáp và có kế hoạch bảo vệ sức khỏe của bản thân.
Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai người đàn ông hay phụ nữ, Graves, basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Định nghĩa Graves - Basedow là hình thức phổ biến nhất của cường giáp, xảy ra khi hệ miễn dịch tấn công nhầm tuyến giáp làm cho nó sản xuất thừa hormone thyroxine. Thyroxine ở cấp độ cao hơn rất nhiều có thể tăng tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể, có thể ảnh hưởng đến từ tâm trạng để ngoại hình. Graves - Basedow hiếm khi đe dọa tính mạng. Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai nam hay nữ, Graves - Basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Không có cách nào để ngăn chặn hệ miễn dịch tấn công tuyến giáp, nhưng phương pháp điều trị bệnh Graves - Basedow có thể dễ dàng giảm triệu chứng và giảm việc sản xuất thyroxine. Các triệu chứng Triệu chứng bệnh Graves - Basedow có thể bao gồm Lo lắng. Khó chịu. Khó ngủ. Mệt mỏi. Nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Run tay hoặc ngón tay. Gia tăng mồ hôi. Nhạy cảm với nhiệt. Giảm trọng lượng, mặc dù lượng thức ăn bình thường. Tóc giòn. Tuyến giáp phì đại bướu cổ. Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt. Bệnh mắt Graves - Basedow Dấu hiệu mắt cũng khá phổ biến và được gọi là bệnh mắt Graves - Basedow. Trong bệnh mắt Graves - Basedow, nhãn cầu phình ra quá quỹ đạo bảo vệ lồi mắt. Điều này xảy ra khi các mô và cơ đằng sau mắt sưng lên và làm cho nhãn cầu di chuyển về phía trước. Bởi vì mắt có thể bị đẩy về phía trước, mặt trước mắt có thể trở nên khô. Nếu hút thuốc lá khi bệnh Graves - Basedow nguy cơ phát triển Graves - Basedow lớn hơn năm lầni người không hút thuốc. Điều này có thể vì hút thuốc ức chế sự hấp thu của thuốc kháng giáp trạng được sử dụng để điều trị bệnh Graves - Basedow. Bệnh mắt Graves - Basedow có thể gây ra những dấu hiệu và triệu chứng nhẹ Cảm giác rách và cảm giác sạn hay cát trong một hoặc cả hai mắt. Đỏ hoặc viêm mắt. Mở rộng không gian giữa mi mắt. Sưng phù mi mắt và các mô xung quanh mắt. Nhạy cảm ánh sáng. Ít thường xuyên hơn, bệnh mắt Graves - Basedow có thể tạo ra những dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng Loét giác mạc. Hạn chế cử động mắt. Mờ, giảm thị lực. Bệnh da Graves - Basedow Một dấu hiệu bất thường của Graves - Basedow là đỏ và sưng da, thường ở mào chày cẳng chân và trên mu bàn chân, gọi là bệnh da Graves – Basedow. Gặp bác sĩ nếu có dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh Graves - Basedow, đặc biệt là Tuyến giáp phì đại. Lồi mắt. Lo lắng. Không dung nạp với nhiệt. Rung tay. Giảm trọng lượng. Tìm kiếm sự chăm sóc khẩn cấp nếu đang trải qua những dấu hiệu liên quan đến tim và các triệu chứng, như nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Nguyên nhân Các bác sĩ không biết những gì gây ra bệnh Graves - Basedow. Thông thường, hệ thống miễn dịch sử dụng các protein tự nhiên kháng thể và các tế bào máu trắng bạch cầu để giúp loại bỏ virus, vi khuẩn và các chất lạ kháng nguyên xâm nhập cơ thể. Trong bệnh Graves - Basedow, hệ thống miễn dịch nhầm lẫn tấn công tuyến giáp, nhưng thay vì phá hủy các tuyến, kháng thể gọi là thyrotropin thụ kháng thể TRAb kích thích tuyến giáp làm cho quá nhiều hormone tuyến giáp. Tuyến giáp là một phần của hệ thống nội tiết, bao gồm các tuyến và các mô sản xuất kích thích tố. Các chất phối hợp nhiều hoạt động của cơ thể, từ tiêu hóa để trao đổi chất đến sinh sản. Thyroxine, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể và có liên quan đến việc kiểm soát tốc độ trao đổi chất. Yếu tố nguy cơ Mặc dù nguyên nhân của Graves - Basedow chưa được biết, các nhà nghiên cứu tin rằng sự kết hợp các yếu tố có thể xác định khả năng phát triển Graves - Basedow, chẳng hạn như Lịch sử gia đình của bệnh. Phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh lớn hơn nam giới bảy lần. Graves - Basedow thường phát triển sau tuổi 20. Stress. Mang thai. Hút thuốc. Các biến chứng Bất cứ lúc nào cơ thể sản xuất quá nhiều hormone tuyến giáp, vì bệnh Graves - Basedow hoặc nguyên nhân khác, nó có thể dẫn đến một số biến chứng Vấn đề về tim. Một số trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của cường giáp liên quan đến tim. Chúng bao gồm nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim được gọi là rung nhĩ và suy tim sung huyết, một tình trạng mà tim không thể lưu thông máu đủ để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Các biến chứng này thường giảm với điều trị thích hợp. Giòn xương. Nếu không điều trị cường giáp cũng có thể dẫn đến xương yếu, xương dễ gãy loãng xương. Sức mạnh của xương phụ thuộc một phần vào số lượng canxi và các khoáng chất khác. Quá nhiều hormon tuyến giáp cản trở khả năng của cơ thể để kết hợp canxi vào xương. Cơn cường giáp. Cường giáp cũng có những cơn cường giáp, sự tăng cường đột ngột các dấu hiệu và triệu chứng, dẫn đến một cơn sốt, nhịp tim nhanh và thậm chí mê sảng. Biến chứng này hiếm gặp, nhưng nếu nó xảy ra, ngay lập tức tìm kiếm sự chăm sóc y tế. Kiểm tra và chẩn đoán Để chẩn đoán bệnh Graves - Basedow, bác sĩ thường sử dụng các thủ tục này Khám lâm sàng. Bác sĩ kiểm tra mắt để xem có bị kích thích hoặc nhô ra và sẽ tìm hiểu xem tuyến giáp có phì đại. Vì Graves - Basedow tăng sự trao đổi chất, bác sĩ sẽ kiểm tra mạch và huyết áp và tìm những dấu hiệu bất thường. Bác sĩ cũng sẽ hỏi về các triệu chứng và lịch sử y tế cá nhân và gia đình. Xét nghiệm máu. Bác sĩ có khả năng xét nghiệm máu để xác định mức độ của tuyến giáp, hormone kích thích TSH và thyroxine. TSH được sản xuất bởi tuyến yên, là hormone kích thích tuyến giáp. Trong bệnh Graves - Basedow, một kháng thể bất thường được gọi là TRAb bắt chước TSH, gây thyroxine cao ngay cả trong khi mức TSH vẫn còn thấp. Nếu mức TSH rất thấp và mức thyroxine cao, bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh Graves - Basedow. Hấp thu I - ốt phóng xạ. Cơ thể cần iodine để làm thyroxine. Bằng cách cho một lượng nhỏ iốt phóng xạ và sau đó đo số lượng nó trong tuyến giáp, bác sĩ có thể xác định tốc độ mà tuyến giáp có iốt. Sự hấp thu iốt phóng xạ cao cho thấy tuyến giáp sản xuất quá nhiều thyroxine, như trường hợp bệnh Graves - Basedow. Hấp thụ thấp xảy ra ở một số nguyên nhân khác của cường giáp. Phương pháp điều trị và thuốc Không có điều trị đặc hiệu để ngăn chặn hệ thống miễn dịch sản xuất các kháng thể gây ra bệnh Graves - Basedow. Phương pháp điều trị để kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Graves - Basedow được thiết kế để giảm việc sản xuất thyroxine hoặc để ngăn chặn tác dụng của thyroxine. Điều trị bệnh Graves - Basedow bao gồm Beta blockers. Những loại thuốc này, trong đó bao gồm propranolol Inderal, atenolol TERNOMIN, metoprolol Lopressor và nadolol Corgard, thường làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng cường giáp, chẳng hạn như là tim nhanh. Những loại thuốc này không phải là chữa bệnh Graves - Basedow vì cơ thể vẫn sản xuất quá nhiều thyroxine, nhưng chẹn beta chặn một số tác dụng của các hormone tuyến giáp. Beta blockers thường được sử dụng kết hợp với các hình thức điều trị. Thuốc kháng giáp. Các thuốc theo toa, bao gồm propylthiouracil và methimazole Tapazole, ngăn chặn tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone. Thông thường, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tiếp tục ít nhất một năm. Đối với một số người bị bệnh Graves - Basedow, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng 1 - 2 năm nhằm thuyên giảm bệnh lâu dài. Tuy nhiên, tái phát là khá phổ biến. Các thuốc này thường được sử dụng cùng với điều trị iốt phóng xạ hoặc phẫu thuật để giúp kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng. Cả hai loại thuốc có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng, đôi khi dẫn đến tử vong. Nhưng propylthiouracil đã gây ra trường hợp nhiều hơn, do đó, nó thường chỉ nên được sử dụng khi không thể chịu đựng được methimazole. Điều trị I - ốt phóng xạ. Để tạo ra nội tiết tố tuyến giáp, cơ thể cần I - ốt và sử dụng bất cứ hình thức nào của I - ốt có sẵn trong máu. Khi có iốt phóng xạ, iốt thu thập trong tuyến giáp và qua thời gian, phóng xạ phá hủy các tế bào tuyến giáp hoạt động quá mức. Điều này làm cho tuyến giáp thu nhỏ, và các vấn đề giảm dần, thường là trong vài tuần đến vài tháng. Bởi vì điều trị này có thể là nguyên nhân gây suy giảm hoạt động tuyến giáp, có thể sau này cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng kích thích tố tuyến giáp bình thường. Điều trị không yêu cầu ở lại bệnh viện. Điều trị I - ốt phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ các triệu chứng mới hoặc bệnh mắt Graves - Basedow trở lên tồi tệ hơn. Tác dụng phụ này thường nhẹ và tạm thời, nhưng điều trị iốt phóng xạ có thể không được khuyến khích nếu đã có vấn đề về mắt trung bình đến trầm trọng. Sau khi điều trị iốt phóng xạ, iốt không được lên tuyến giáp được bài tiết trong nước tiểu và nước bọt . Phẫu thuật. Nếu không thể chịu đựng được loại thuốc kháng giáp trạng và không muốn dùng iốt phóng xạ trị liệu, phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp là một lựa chọn. Sau khi phẫu thuật, sẽ có thể cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng bình thường của kích thích tố tuyến giáp. Rủi ro của phẫu thuật này bao gồm thiệt hại tiềm năng dây thanh và tuyến cận giáp, các tuyến nhỏ nằm cạnh tuyến giáp. Tuyến cận giáp tạo ra hormone kiểm soát mức canxi trong máu. Các biến chứng rất hiếm dưới sự chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong phẫu thuật tuyến giáp. Điều trị bệnh mắt Graves - Basedow Nếu Graves - Basedow ảnh hưởng đến mắt, có thể quản lý các triệu chứng nhẹ bằng cách sử dụng nước mắt nhân tạo trong ngày và bôi gel vào ban đêm. Nếu các triệu chứng nặng hơn, bác sĩ có thể khuyên nên Thuốc. Điều trị bằng thuốc corticosteroid, chẳng hạn như prednisone, có thể làm giảm sưng phía sau nhãn cầu. Phẫu thuật giải nén hốc mắt. Trong phẫu thuật này, bác sĩ loại bỏ các xương giữa hốc mắt và các xoang. Điều này cho mắt thoải mái trở lại vị trí ban đầu. Biến chứng có thể bao gồm nhìn đôi và tê môi. Phẫu thuật cơ mắt. Viêm nhiễm gây ra bởi bệnh Graves - Basedow có thể ảnh hưởng đến các cơ mắt, làm cho quá ngắn để cho phép mắt phù hợp. Trong phẫu thuật cơ mắt, bác sĩ cắt giảm các cơ gắn vào nhãn cầu và sau đó tái vị trí nó xa trở lại. Đôi khi, nhiều hơn một hoạt động là cần thiết. Lăng kính. Có thể nhìn đôi hoặc do bệnh hoặc tác dụng phụ của phẫu thuật cho bệnh Graves - Basedow. Mặc dù không hiệu quả cho tất cả mọi người, lăng kính trong mắt kính có thể chính xác khi nhìn đôi. Xạ trị hốc mắt Orbital. xạ trị đã từng là điều trị phổ biến cho bệnh mắt Graves - Basedow. Xạ trị sử dụng nhắm mục tiêu trong suốt nhiều ngày để tiêu diệt một số các mô đằng sau mắt. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy điều trị này không cung cấp lợi ích cho những người có bệnh mắt Graves - Basedow từ nhẹ đến nặng vừa phải. Bác sĩ có thể khuyên nên xạ trị nếu vấn đề mắt đang xấu đi và corticosteroid một mình là không hiệu quả hoặc không dung nạp tốt. Phong cách sống và biện pháp khắc phục Đối với bệnh mắt Graves - Basedow Các bước này có thể làm cho mắt cảm thấy tốt hơn nếu có bệnh mắt Graves - Basedow Áp mát nén mắt. Độ ẩm có thể làm dịu đôi mắt. Đeo kính râm. Khi mắt nhô ra, dễ bị tia cực tím và nhạy cảm với ánh sáng. Đeo kính mát bọc quanh hai bên đầu sẽ giảm gió kích thích mắt. Sử dụng thuốc nhỏ mắt bôi trơn. Thuốc nhỏ mắt có thể làm giảm cảm giác, khô hỗn tạp trên bề mặt của mắt. Vào ban đêm, một gel dựa trên dầu như Lacri có thể được áp dụng. Nâng cao đầu giường. Giữ đầu cao hơn so với phần còn lại của cơ thể làm giảm sự tích tụ dịch trong đầu và có thể làm giảm áp lực trên mắt. Đối với bệnh da Graves - Basedow Nếu bệnh ảnh hưởng đến da, các loại kem sử dụng toa hoặc thuốc mỡ chứa hydrocortisone để làm giảm sưng và đỏ. Ngoài ra, sử dụng nén trên đôi chân có thể giúp đỡ. Đối phó và hỗ trợ Nếu bị bệnh Graves - Basedow, làm cho thể chất và tinh thần tốt là một ưu tiên. Ăn uống tốt và tập thể dục có thể nâng cao sự cải thiện trong một số triệu chứng trong khi được điều trị và giúp cảm thấy tốt hơn nói chung. Ví dụ, bởi vì tuyến giáp điều khiển sự trao đổi chất, có thể có xu hướng tăng cân khi cường giáp. Dễ gãy xương cũng có thể xảy ra với bệnh Graves - Basedow và bài tập chịu trọng lượng có thể giúp duy trì mật độ xương. Hãy thử giảm bớt căng thẳng nhiều như có thể, căng thẳng có thể góp phần vào sự phát triển bệnh Graves - Basedow. Nghe nhạc, tắm nước ấm hoặc đi bộ có thể giúp thư giãn. Đối tác với bác sĩ để xây dựng một kế hoạch kết hợp dinh dưỡng tốt, tập thể dục và thư giãn vào thói quen hàng ngày.
Thuốc kháng giáp ngăn cho tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone dư thừa bằng cách ức chế quá trình oxy hóa i-ốt trong tuyến giáp. Các triệu chứng bệnh basedow thường sẽ cải thiện trong vòng 4–6 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc. Các thuốc kháng giáp có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp điều trị khác như liệu pháp i-ốt phóng xạ hoặc phẫu thuật. Việc sử dụng thuốc có khi vẫn tiếp tục kéo dài trong 12–18 tháng để đảm bảo tình trạng bệnh không quay trở lại. Trong một số trường hợp, bạn có khi phải uống thuốc lâu hơn. Liệu pháp i-ốt phóng xạ Liệu pháp i-ốt phóng xạ đã được ứng dụng để điều trị basedow phổ biến từ những năm 1940. Đến ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng vì không xâm lấn và mang lại hiệu quả cao. I-ốt phóng xạ được đưa vào cơ thể bằng đường uống và sẽ nhắm trực tiếp vào tuyến giáp. Bình thường, tuyến giáp sử dụng i-ốt để tạo nên hormone. Khi dùng thuốc, i-ốt phóng xạ sẽ tích tụ trong tuyến giáp và từ từ phá hủy các tế bào hoạt động quá mức ở đây. Từ đó, kích thước tuyến giáp sẽ giảm xuống và sản xuất ít hormone hơn lúc trước. Mặc dù có những lo ngại cho rằng sử dụng phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp nhưng đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đo được mức độ nguy hiểm sẽ tăng lên bao nhiêu. Tuy nhiên, vẫn có một rủi ro nhỏ có thể xảy ra khi thực hiện liệu pháp này là ung thư thứ phát. Mặc dù liệu pháp i-ốt phóng xạ khá an toàn nhưng không nên dùng cho phụ nữ có thai vì chất này có thể phá hủy tuyến giáp ở thai nhi. Do đó, bạn phải đảm bảo không mang thai trước khi uống thuốc i-ốt phóng xạ. Ngoại trừ giai đoạn đang điều trị, i-ốt phóng xạ không gây nguy hiểm cho sức khỏe với phụ nữ muốn có thai cũng như không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ hoặc nam giới. Thuốc chẹn beta Theo chỉ định chính thống, thuốc chẹn beta được dùng để điều trị các vấn đề về tim và tăng huyết áp. Chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn tác động của adrenalin và các hợp chất tương tự khác. Bên cạnh đó, các thuốc này có thể giúp giảm bớt những triệu chứng bệnh basedow. Người bệnh basedow có khả năng nhạy cảm hơn với adrenalin, từ đó gây ra các triệu chứng như đổ mồ hôi, run rẩy, tăng nhịp tim và lo lắng. Khi đó, thuốc chẹn beta có thể giúp giảm bớt những triệu chứng này, nhưng lưu ý là chúng không giải quyết được nguyên nhân gây bệnh basedow. Thuốc chẹn beta hay được dùng chung với những phương pháp điều trị khác. Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ xuất hiện tương tác thuốc sẽ tăng lên, gây ra những tác dụng không mong muốn. Phẫu thuật Phẫu thuật tuyến giáp là cách điều trị basedow được chỉ định nếu các phương pháp điều trị khác không thành công. Cắt tuyến giáp sẽ loại bỏ tất cả hoặc một phần của tuyến giáp tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bệnh. Ưu điểm lớn nhất khi phẫu thuật chính là khôi phục được nồng độ hormone tuyến giáp nhanh nhất, dễ nhất và lâu dài nhất. Sau khi phẫu thuật, người bệnh có thể cảm thấy đau cổ, giọng khàn và yếu ớt nhưng chỉ là những biểu hiện tạm thời do ống thở được đưa vào khí quản trong khi phẫu thuật gây nên. Một vết sẹo sẽ xuất hiện sau khi cắt tuyến giáp và kích thước của nó sẽ phụ thuộc vào phần tuyến giáp được phẫu thuật loại bỏ đi. Khi phẫu thuật chỉ loại bỏ một phần tuyến giáp, phần còn lại sẽ vẫn có khả năng đảm nhận được chức năng của tuyến nội tiết này. Tuy nhiên, nếu toàn bộ tuyến giáp bị cắt bỏ, cơ thể sẽ không thể sản xuất đủ hormone tuyến giáp và gây ra tình trạng suy giáp. Để điều trị bệnh lý này, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc nội tiết tố có tác dụng thay thế hormone bị thiếu và bạn sẽ cần sử dụng chúng suốt đời. Các biện pháp hỗ trợ tại nhà cho bệnh basedow Những người mắc bệnh basedow có vấn đề về mắt thường chiếm khoảng 25–50% nhưng hầu hết đều có thể kiểm soát được bằng các biện pháp khắc phục tại nhà dưới đây. Một số trường hợp có thể cần phẫu thuật nhưng rất hiếm và chỉ dành cho những trường hợp có triệu chứng nghiêm trọng Nếu mí mắt không thể khép lại hoàn toàn, hãy sử dụng miếng dán mắt vào ban đêm để giữ cho mắt không bị khô. Sử dụng nước mắt nhân tạo không kê đơn hoặc theo đơn của bác sĩ để làm ẩm mắt bất cứ khi nào cảm thấy khô mắt. Khi mắt bị đỏ và sưng vào buổi sáng, hãy thay đổi tư thế ngủ với đầu được kê cao lên. Đeo kính râm để bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời, ánh sáng đèn và gió.
giải phẫu bệnh basedow